ĐÀ NẴNG: NÚI, SÔNG, BIỂN ĐANG ĐỊNH HÌNH ĐÔ THỊ NHƯ THẾ NÀO?
Những chủ đề được triển khai theo chiều sâu – nơi mỗi bài viết không đứng riêng lẻ, mà là một phần của một bức tranh lớn hơn.
Hà Nội đang chảy về đâu khi các khu đô thị mới tiếp tục mở rộng? Bài viết phân tích sự lệch pha giữa nơi ở, việc làm và hạ tầng, những dòng vận động đang tổ chức không gian Hà Nội và bằng chứng cần có để đánh giá quá trình hình thành cấu trúc đô thị đa cực.
Thay đổi hình học đô thị Hà Nội không chỉ nằm ở những tuyến đường, cây cầu hay khu đô thị mới. Vấn đề là liệu sự mở rộng không gian xây dựng có thực sự làm thay đổi dòng vận động, quan hệ giữa các trung tâm và cấu trúc đô thị hay không.
Mổ xẻ mối quan hệ giữa FDI, doanh nghiệp nội địa, công nghệ, thiết kế, linh kiện và giá trị gia tăng. Phân biệt sản xuất trên lãnh thổ Việt…
Phân tích sự tập trung xuất khẩu, khả năng chuyển hướng thị trường, yêu cầu tiêu chuẩn và mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp Việt Nam vào nhu cầu…
Đi sâu vào nguyên liệu, linh kiện, máy móc và đầu vào trung gian từ Trung Quốc. Phân biệt nhóm hàng có thể chuyển nguồn với những mắt xích có…
Việt Nam đang phụ thuộc vào ai, và phụ thuộc ở đâu? Từ nguồn cung đầu vào Trung Quốc, thị trường xuất khẩu Hoa Kỳ đến vốn và công nghệ quốc tế, bài viết phân tích những điểm nghẽn có thể thu hẹp quyền lựa chọn và năng lực tự chủ của Việt Nam.
Phụ thuộc không đồng nghĩa với mất tự chủ. Điểm quyết định nằm ở khả năng thay thế và quyền lựa chọn khi điều kiện bên ngoài thay đổi.
Một lựa chọn có thể mang lại lợi ích trước mắt nhưng đồng thời tạo ra những ràng buộc khó thay đổi trong tương lai. Phụ thuộc dài hạn hình thành khi lợi ích hiện tại không đi cùng năng lực thay thế, khả năng làm chủ và phương án ứng phó khi điều kiện hợp tác thay đổi. Vấn đề không phải là từ chối lợi ích trước mắt, mà là nhận diện cái giá có thể xuất hiện về sau.
Hợp tác công nghệ không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận máy móc, thiết bị và tri thức từ bên ngoài. Giá trị quan trọng hơn là khả năng làm chủ quy trình, cải tiến công nghệ, phát triển năng lực nội địa và tạo ra giá trị cao hơn. Vấn đề không chỉ là nhận được công nghệ gì, mà là sau hợp tác, Việt Nam có thể tự làm được những gì.