
Có một suy nghĩ khá phổ biến:
Hai cường quốc cùng muốn một quốc gia không có nghĩa quốc gia đó đã đủ sức chuyển sự quan tâm của họ thành lợi thế cho mình.
Nghe rất hợp lý.
Nếu cả Mỹ và Trung Quốc đều coi trọng Việt Nam, Việt Nam có thể có thêm đối tác, thị trường, dòng vốn, công nghệ và cơ hội hợp tác. Mỗi bên đều có lý do để duy trì quan hệ, nên Việt Nam dường như có thêm khả năng lựa chọn.
Nhưng có một bước nhảy logic cần được xem xét:
Hai cường quốc cùng muốn một quốc gia không có nghĩa quốc gia đó đã đủ sức chuyển sự quan tâm của họ thành lợi thế cho mình.
Muốn có quan hệ với một quốc gia là một chuyện. Sẵn sàng trả giá bao nhiêu để có được sự hợp tác của quốc gia ấy lại là chuyện khác. Và ngay cả khi nhận được những đề nghị có giá trị, quốc gia đó vẫn cần năng lực để biến chúng thành lợi ích thực tế.
Vậy ai mới thực sự có lợi thế khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia?
Câu trả lời không nằm đơn giản ở việc bên nào mạnh hơn, cũng không nằm ở số lượng lời đề nghị mà quốc gia ấy nhận được.
Nó nằm trong cấu trúc lợi ích, mức độ phụ thuộc và khả năng chuyển hóa nguồn lực thành sức mạnh của mỗi bên.
1. HAI CƯỜNG QUỐC CÙNG MUỐN MỘT QUỐC GIA, NHƯNG KHÔNG NHẤT THIẾT MUỐN CÙNG MỘT THỨ
Điểm đầu tiên cần phân biệt là: hai cường quốc có thể cùng coi trọng một quốc gia nhưng vì những lý do rất khác nhau.
Một bên có thể coi trọng thị trường, nguồn lao động, vị trí địa lý hoặc vai trò của quốc gia đó trong chuỗi cung ứng. Bên còn lại có thể quan tâm nhiều hơn đến an ninh, công nghệ, khả năng tiếp cận khu vực hoặc cấu trúc quan hệ giữa các nước.
Trong thực tế, những lợi ích này có thể đan xen. Một quốc gia vừa có thể là đối tác thương mại, vừa là địa bàn sản xuất, vừa có ý nghĩa đối với an ninh khu vực.
Quan hệ Việt Nam – Mỹ và Việt Nam – Trung Quốc cho thấy hai khuôn khổ hợp tác có phạm vi và cách diễn đạt riêng. Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện năm 2023, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, khoa học – công nghệ, giáo dục và an ninh. Trong khi đó, tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc tháng 4/2026 tiếp tục nhấn mạnh hợp tác kinh tế, quốc phòng – an ninh, kết nối và phối hợp chiến lược.
Điều đó cho thấy không thể chỉ nhìn vào việc hai bên đều tăng cường quan hệ để kết luận rằng họ đang cạnh tranh nhằm giành lấy cùng một lợi ích.
Điểm cần xác định là mỗi cường quốc coi trọng điều gì, cần Việt Nam thực hiện vai trò nào và giới hạn nhượng bộ của họ nằm ở đâu.
Nếu hai bên muốn những thứ khác nhau, Việt Nam có thể mở rộng hợp tác trên nhiều hướng mà không nhất thiết phải biến mọi quan hệ thành một cuộc lựa chọn loại trừ.
Nhưng nếu lợi ích của hai bên xung đột trực tiếp, không gian lựa chọn có thể thu hẹp. Khi đó, lợi thế không còn chỉ là có nhiều đối tác, mà là khả năng duy trì những quan hệ cần thiết trong khi kiểm soát được các chi phí và rủi ro phát sinh.
2. ĐƯỢC CẢ HAI BÊN QUAN TÂM KHÔNG ĐỒNG NGHĨA VỚI VIỆC CẢ HAI BÊN PHẢI NHƯỢNG BỘ
Một quốc gia có thể nhận được sự quan tâm từ nhiều cường quốc. Nhưng mức độ quan tâm chỉ tạo ra sức mặc cả khi nó làm thay đổi tính toán của các bên.
Hãy xem xét hai tình huống.
Trong tình huống thứ nhất, cả hai cường quốc đều muốn mở rộng hợp tác, nhưng mỗi bên đều có nhiều lựa chọn thay thế. Nếu không đạt được thỏa thuận với Việt Nam, họ vẫn có thể tìm kiếm đối tác khác, điều chỉnh kế hoạch hoặc chờ đợi một thời điểm thuận lợi hơn.
Trong tình huống thứ hai, Việt Nam nắm giữ những điều khó thay thế trong một lĩnh vực cụ thể: vị trí kết nối, năng lực sản xuất đã hình thành, thị trường có ý nghĩa, nguồn nhân lực chuyên môn hoặc khả năng phối hợp mà các bên khó đạt được bằng phương án khác.
Khi đó, việc không đạt được hợp tác với Việt Nam có thể khiến mỗi bên phải chịu chi phí lớn hơn.
Sự khác biệt nằm ở chi phí của phương án thay thế.
Một bên càng khó tìm được phương án thay thế, họ càng có lý do để duy trì quan hệ, điều chỉnh đề nghị hoặc chấp nhận một số điều kiện nhất định. Ngược lại, nếu Việt Nam phụ thuộc lớn vào một thị trường, một nguồn cung, một công nghệ hoặc một đối tác mà chưa có phương án thay thế khả thi, khả năng thương lượng của Việt Nam có thể bị giới hạn.
Điều này không có nghĩa một quốc gia nhỏ chỉ có lợi thế khi sở hữu thứ độc nhất vô nhị. Lợi thế cũng có thể đến từ khả năng cung cấp ổn định, chi phí cạnh tranh, năng lực thực thi đáng tin cậy hoặc sự kết hợp của nhiều yếu tố mà đối tác khó thay thế trong thời gian ngắn.
Cũng không thể suy ra rằng Việt Nam có thể tùy ý đòi hỏi nhượng bộ chỉ vì cả hai cường quốc đều muốn hợp tác. Các bên vẫn cân nhắc lợi ích, chi phí, rủi ro và những giới hạn chính trị của chính họ.
Vì vậy, phép thử không phải là có bao nhiêu cường quốc đang quan tâm đến Việt Nam.
Phép thử là: Nếu một bên rút lại đề nghị hoặc giảm mức độ hợp tác, bên đó mất gì và Việt Nam mất gì?
Nếu chi phí của hai bên không cân xứng, quyền thương lượng cũng có thể không cân xứng.
3. CÓ NHIỀU LỜI ĐỀ NGHỊ NHƯNG KHÔNG ĐỦ NĂNG LỰC TIẾP NHẬN, LỢI THẾ CÓ THỂ KHÔNG THUỘC VỀ MÌNH
Đây là nghịch lý quan trọng hơn.
Giả sử hai cường quốc đều sẵn sàng mở rộng hợp tác với Việt Nam. Một bên có thể đưa ra cơ hội tiếp cận thị trường; bên kia có thể cung cấp máy móc, nguyên liệu, vốn hoặc cơ hội tham gia chuỗi cung ứng. Việt Nam có thể đồng thời tiếp nhận nhiều dòng hợp tác.
Nhưng khả năng tiếp nhận cơ hội không tự động đồng nghĩa với khả năng làm chủ giá trị được tạo ra từ cơ hội đó.
Một doanh nghiệp có thể nhận đơn hàng từ thị trường lớn nhưng vẫn phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Một nhà máy có thể sử dụng thiết bị hiện đại nhưng không làm chủ thiết kế và công nghệ cốt lõi. Một nền kinh tế có thể gia tăng xuất khẩu mà doanh nghiệp trong nước vẫn chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị cao.
Khi đó, quốc gia có thêm hoạt động kinh tế nhưng chưa chắc có thêm quyền quyết định đối với hoạt động ấy.
Đây cũng là vấn đề đã xuất hiện trong phân tích về nền kinh tế Việt Nam. OECD ghi nhận các liên kết giữa khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực doanh nghiệp nội địa để tăng lợi ích từ đầu tư nước ngoài.
Điểm cốt lõi không phải là vốn nước ngoài có lợi hay có hại. Vấn đề là năng lực trong nước có tăng lên cùng với dòng vốn hay không.
Nếu Việt Nam chỉ có thể tiếp nhận các cơ hội trong những khâu mình đang đảm nhiệm, lợi ích thu được sẽ bị giới hạn bởi năng lực hiện có. Nếu Việt Nam nâng được trình độ nhân lực, năng lực công nghệ, hệ thống nhà cung ứng và khả năng nghiên cứu – phát triển, những cơ hội tương tự có thể tạo ra giá trị lớn hơn.
Khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, lợi thế không chỉ nằm ở việc được lựa chọn làm đối tác.
Nó còn nằm ở năng lực lựa chọn phần việc mình muốn đảm nhiệm, nâng cấp vai trò của mình và giữ lại nhiều giá trị hơn sau mỗi vòng hợp tác.
Một quốc gia không thể chuyển mọi đề nghị thành lợi ích như nhau. Năng lực nội tại quyết định cơ hội nào có thể được tiếp nhận, cơ hội nào có thể được chuyển hóa và cơ hội nào chỉ tạo ra sự phụ thuộc mới.
4. KHI HAI CƯỜNG QUỐC CÙNG MUỐN MỘT QUỐC GIA, LỢI THẾ CÒN PHỤ THUỘC VÀO KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT RỦI RO
Một cách nhìn khác thường bị bỏ qua là: quan hệ với nhiều cường quốc không chỉ tạo ra cơ hội, mà còn có thể tạo ra những ràng buộc khác nhau.
Một nền kinh tế có thể đồng thời phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu của một bên, nguồn nguyên liệu từ bên khác, công nghệ từ một số nhà cung cấp và các tuyến vận tải đi qua những khu vực có rủi ro địa chính trị.
Trong điều kiện bình thường, những mối liên kết đó có thể bổ trợ lẫn nhau. Nhưng khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, sự đan xen giữa các quan hệ kinh tế và chiến lược cũng có thể khiến những liên kết ấy trở thành điểm dễ tổn thương khi cạnh tranh gia tăng.
Các biện pháp thuế quan, hạn chế công nghệ, kiểm soát xuất khẩu hoặc yêu cầu về xuất xứ hàng hóa có thể làm thay đổi chi phí và điều kiện tiếp cận thị trường.
Chẳng hạn, khuôn khổ thương mại Mỹ – Việt được công bố năm 2025 cho thấy thương mại không chỉ là câu chuyện mở rộng trao đổi hàng hóa, mà còn gắn với tiếp cận thị trường, điều kiện thương mại và các mục tiêu an ninh kinh tế.
Điều này đặt ra một câu hỏi khác: nếu hai bên cùng muốn hợp tác với Việt Nam trong thời điểm hiện tại, Việt Nam có thể duy trì hợp tác đó khi điều kiện bên ngoài thay đổi hay không?
Câu trả lời phụ thuộc vào khả năng chống chịu của nền kinh tế và mức độ linh hoạt của các quan hệ đối ngoại.
Nếu một ngành sản xuất không có nguồn cung thay thế, việc gián đoạn từ một đối tác có thể làm đình trệ cả chuỗi sản xuất. Nếu doanh nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu xuất xứ, hàng hóa có thể mất lợi thế khi tiếp cận một thị trường. Nếu công nghệ quan trọng chỉ đến từ một nguồn, những thay đổi trong chính sách kiểm soát có thể ảnh hưởng đến kế hoạch phát triển dài hạn.
Do đó, đa dạng hóa đối tác chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là đa dạng hóa có thực chất hay không: có nhà cung cấp thay thế đủ năng lực, có thị trường thay thế khả thi, có thể chuyển đổi công nghệ và có đủ năng lực trong nước để duy trì hoạt động khi một mối liên kết bị gián đoạn hay không.
Hai cường quốc cùng muốn một quốc gia không có nghĩa quốc gia đó sẽ ít bị tổn thương hơn nếu các quan hệ kinh tế vẫn cùng phụ thuộc vào một vài điểm nghẽn
Ngược lại, khi có những lựa chọn thay thế thực tế và khả năng thích ứng cao hơn, quốc gia đó có thêm không gian để thương lượng mà không phải phản ứng vội vàng trước mỗi biến động.
Lợi thế không chỉ là khả năng nhận được điều kiện tốt hơn khi mọi việc thuận lợi, mà còn là khả năng không bị đẩy vào thế phải chấp nhận điều kiện bất lợi khi hoàn cảnh thay đổi.

5. LỢI THẾ BỀN VỮNG KHÔNG NẰM Ở VIỆC KHIẾN HAI BÊN CẠNH TRANH, MÀ Ở VIỆC LÀM CHO HỢP TÁC CÓ GIÁ TRỊ
Từ những phân tích trên, có thể thấy một ngộ nhận khác: nếu hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, quốc gia đó nên tận dụng sự cạnh tranh giữa họ để giành được càng nhiều nhượng bộ càng tốt.
Cách tiếp cận này có thể tạo ra lợi ích trong một số tình huống, nhưng không đủ để trở thành nền tảng của chiến lược dài hạn.
Bởi giá trị mà các bên dành cho một quốc gia không cố định. Nó có thể tăng lên khi quốc gia ấy có vị trí, năng lực và vai trò khó thay thế; nhưng cũng có thể giảm xuống khi điều kiện thị trường thay đổi, công nghệ mới xuất hiện hoặc các cường quốc tìm được phương án khác.
Nếu lợi thế chỉ dựa trên việc hai bên đang cạnh tranh, quốc gia đó sẽ dễ bị tác động bởi chính sự thay đổi trong cạnh tranh ấy.
Nếu hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, lợi thế bền vững vẫn phụ thuộc vào năng lực thực chất giúp quốc gia đó duy trì vai trò của mình qua nhiều giai đoạn.
Đối với Việt Nam, điều này không có nghĩa phải lựa chọn một cường quốc và từ bỏ quan hệ với cường quốc còn lại. Cũng không có nghĩa mọi lĩnh vực đều có thể hợp tác với tất cả các bên theo cùng một cách.
Vấn đề là phải phân biệt rõ lợi ích có thể bổ trợ cho nhau với những lợi ích có thể xung đột; xác định những lĩnh vực cần hợp tác sâu, những lĩnh vực cần quản trị rủi ro và những năng lực trong nước cần được xây dựng để giảm sự phụ thuộc quá mức.
Trong kinh tế, đó là khả năng nâng cấp doanh nghiệp nội địa, tăng năng lực công nghệ, phát triển nhân lực và đa dạng hóa các nguồn cung thiết yếu.
Trong đối ngoại, đó là khả năng duy trì các kênh hợp tác, hiểu rõ giới hạn của từng quan hệ và không để một cam kết riêng lẻ tự động quyết định toàn bộ không gian lựa chọn của quốc gia.
Trong hoạch định chiến lược, đó là khả năng nhìn xa hơn giá trị của một thỏa thuận trước mắt để đánh giá nó đóng góp thế nào vào năng lực quốc gia trong nhiều năm tiếp theo.
Khi một quốc gia có thể cung cấp những giá trị thực chất, thực hiện cam kết đáng tin cậy và duy trì khả năng hợp tác trong điều kiện biến động, các đối tác có thêm lý do để coi trọng quan hệ với quốc gia đó.
Khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, lợi thế không nhất thiết biểu hiện bằng việc một bên phải nhượng bộ bên kia. Nó có thể nằm ở khả năng đạt được những thỏa thuận phù hợp hơn, duy trì nhiều lựa chọn hơn và hạn chế chi phí khi môi trường quốc tế thay đổi.
LỢI THẾ CUỐI CÙNG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH Ở ĐÂU?
Khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, không thể chỉ căn cứ vào số lượng lời đề nghị để kết luận ai có lợi thế.
Để xác định lợi thế khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, cần xem xét ít nhất bốn yếu tố: mỗi bên cần quốc gia đó đến đâu; có thể thay thế quốc gia đó bằng phương án nào; quốc gia đó có năng lực chuyển sự hợp tác thành giá trị thực chất hay không; và các bên phải chịu chi phí gì nếu quan hệ không diễn ra như mong muốn.
Bốn yếu tố này liên kết với nhau.
Một quốc gia có vị trí quan trọng nhưng thiếu năng lực thực thi có thể không tận dụng hết lợi thế địa lý. Một quốc gia thu hút nhiều vốn nhưng không nâng được năng lực doanh nghiệp trong nước có thể không giữ lại được phần giá trị tương xứng. Một quốc gia có nhiều đối tác nhưng không có phương án thay thế thực chất vẫn có thể chịu sức ép khi một quan hệ bị gián đoạn.
Khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, vị thế của quốc gia đó có cơ sở vững chắc hơn nếu vị trí chiến lược đi cùng năng lực sản xuất, công nghệ, nhân lực và khả năng chống chịu.
Vì vậy, câu hỏi quan trọng không phải chỉ là Mỹ cần Việt Nam đến đâu, hay Trung Quốc coi trọng Việt Nam đến mức nào.
Khi hai cường quốc cùng muốn một quốc gia, câu hỏi sâu hơn là: Việt Nam đang nắm giữ những giá trị gì mà các đối tác cần, có thể phát triển thêm những giá trị nào, và có đủ năng lực để chuyển những giá trị ấy thành lợi ích lâu dài hay chưa?
Hai cường quốc cùng muốn một quốc gia có thể mở ra cơ hội. Nhưng cơ hội không tự chuyển thành quyền thương lượng, cũng không tự chuyển thành sức mạnh.
Sự quan tâm từ bên ngoài tạo ra không gian cơ hội. Năng lực bên trong quyết định Việt Nam có thể sử dụng không gian ấy đến đâu.
Và đó cũng là điểm cần phân biệt giữa một quốc gia được nhiều cường quốc quan tâm với một quốc gia thực sự có khả năng định hình điều kiện hợp tác của mình.
Bài liên quan
#Aicoloithekhihaicuongquoccungmuonmotquocgia #Canhtranhnuoclon #LoithethuongluongcuaVietNam #Quyenthuongluongcuaquocgia #VietNamgiuaMyvaTrungQuoc
